Hóa đơn đầu vào trên 20 triệu chưa thanh toán



– Hóa đơn đầu vào trên 20 triệu chưa thanh toán qua ngày 31/12 hoặc hạn trên hợp đồng có được khấu trừ thuế GTGT, có được tính vào chi phí hợp lý ?

Trương hợp : hóa đơn đầu vào trên 20 triệu chưa thanh toán qua ngân hàng.

lop hoc ke toan tong hop thuc hanh tai bac ninh
– Biên bản đối chiếu công nợ

– Hợp đồng kinh tế ghi rõ điều khoản trả trậm

– Khai báo thuế đầy đủ

– Hạch toán sổ sách đầy đủ

= > Như vậy khi có hợp đồng trả chậm vẫn được xét khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí hợp lý khi quyết toán thu nhập doanh nghiệp


+Thuế GTGT:

Căn cứ:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
– Điều 15 khoản c Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 - Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng

– Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào.

= > Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc trước ngày 31 tháng 12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31 tháng 12, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

+Thuế TNDN:

Căn cứ:

– Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC)

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại gò vấp
– Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. = > Hạch toán treo công nợ 331, hợp đồng trả trậm
[Read More...]


Không phát sinh mua bán có phải khai thuế hay không?



Không phát sinh mua bán có phải khai thuế hay không?
– Hàng tháng, hàng năm không phát sinh mua bán có phải khai thuế hay không?
– Có phải nộp thuế không?
– Cần phải làm những thủ tục gì?
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại gia lâm
1.Tờ khai thuế theo tháng, quý.
a.Thuế GTGT.
-Căn cứ Thông tư 156/2013/TT-BTC tại Điều 10, Khoản 1, Điểm c quy định về nguyên tắc tính thuế, khai thuế như sau:
“c) Đối với loại thuế khai theo tháng, quý, tạm tính theo quý hoặc năm, nếu trong kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc người nộp thuế đang thuộc diện được hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế thì người nộp thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng thời hạn quy định, trừ trường hợp đã chấm dứt hoạt động kinh doanh và trường hợp tạm ngừng kinh doanh theo hướng dẫn tại điểm đ khoản 1 Điều này và các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế theo hướng dẫn tại Điều 16, Điều 17, Điều 18 Thông tư này.”
-Như vậy:
+ Trong kỳ nếu doanh nghiệp không phát sinh doanh thu, chi phítức là không có hóa đơn đầu vào, đầu ra thìdoanh nghiệp vẫn phải nộp tờ khai thuế GTGT. Xuất tờ khai trắng ra nộp
b.Thuế TNDN.
-Căn cứ Thông tư 151/2014/TT-BTC Điều 17 Bổ sung Điều 12a, Thông tư số 156/2013/TT-BTC như sau:
“Điều 12a. Tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý và quyết toán thuế năm
Căn cứ kết quả sản xuất, kinh doanh, người nộp thuế thực hiện tạm nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp của quý chậm nhất vào ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế; doanh nghiệp không phải nộp tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính hàng quý.”
Như vậy:
+ Doanh nghiệpkhông phải nộp tờ khai thuế tạm tínhhàng quý dù doanh nghiệp cóphát sinh doanh thu, chi phí hoặc không phát sinh doanh thu, chi phí.
+ Doanh nghiệp chỉ tạm tính tiền thuế phát sinh trong quý (nếu có) và nộp cho cơ quan thuế.
c.Thuế TNCN.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại nam định
-Thông tư 156/2013/TT-BTC tại Điều 16, Khoản 1, Điểm a quy định về nguyên tắc khai thuế TNCN như sau:
“a.1) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân khai thuế theo tháng hoặc quý. Trường hợp trong tháng hoặc quý, tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì không phải khai thuế”
Như vậy:
– Nếu trong kỳ doanh nghiệp trả thu nhập cho người lao động có phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì doanh nghiệp phải kê khai thuế và nộp tờ khai thuế TNCN theo tháng, quý.
– Nếu trong kỳ doanh nghiệp trả thu nhập cho người lao động nhưng không phát sinh khấu trừ thuế thì doanh nghiệp không phải kê khai thuế TNCN.
2.Tờ khai quyết toán thuế Năm.
a.Thuế TNDN.
-Thông tư 156/2013/TT-BTC tại Điều 10, Khoản 1, Điểm c quy định về nguyên tắc tính thuế, khai thuế như sau:
“c) Đối với loại thuế khai theo tháng, quý, tạm tính theo quý hoặc năm, nếu trong kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc người nộp thuế đang thuộc diện được hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế thì người nộp thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng thời hạn quy định, trừ trường hợp đã chấm dứt hoạt động kinh doanh và trường hợp tạm ngừng kinh doanh theo hướng dẫn tại điểm đ khoản 1 Điều này và các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế theo hướng dẫn tại Điều 16, Điều 17, Điều 18 Thông tư này.”
Như vậy:Doanh nghiệp vẫn phải nộp tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo năm dù doanh nghiệp có phát sinh các khoản doanh thu hay không phát sinh doanh thu.
b.Thuế TNCN.
-Thông tư 151/2014/TT-BTC tại Điều 19 Sửa đổi, bổ sung tiết a.3, điểm a, khoản 1 Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC như sau:
“a.3) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế.Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.”
Như vậy:
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quảng ninh
+ Nếu tổ chức cá nhân có phát sinh trả thu nhập trong năm thì doanh nghiệp phải nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN.
+ Nếu tổ chức cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuếthu nhập cá nhập cá nhân. Nộp tờ khai trắng/ hoặc không nộp đều không bị phạt vi phạm.
[Read More...]


Giảm lỗ sau quyết toán: thể hiện trên sổ sách thế nào?



Giảm lỗ sau quyết toán: thể hiện trên sổ sách thế nào?

–Công ty sau khi thanh tra thuế tại doanh nghiệp nhận được quyết định trong đó có phần giảm lỗ?

–Sau kiểm tra quyết toán thuế, thanh tra thuế thường trên biển bản kết quả xử lý thường hay có kết quả xử lý giảm lỗ các năm:

+ Xử lý giảm lỗ như thế nào?

–Vậy giảm lỗ có cần làm lại sổ sách không?

–Giảm lỗ có cần định khoản gì không?

***Căn cứ:

– Điều 9 của Thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 18 tháng 06 năm 2014 & Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22 tháng 06 năm2015Hướng dẫn về thuế thu nhập Doanh nghiệp tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP

***Theo đó:

– Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập (thu nhập chịu thuế đã trừ thu nhập miễn thuế) của những năm tiếp theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.

***Về quyết toán thuế TNDN:

+++Phân biệt Lợi nhuận kế toán và Thu nhập tính thuế

– Lợi nhuận (lỗ) kế toán: Là lãi hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.

– Thu nhập tính thuế: Là thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp của một kỳ, được xác định theo qui định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và là cơ sở để tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được tính trên Cơ sở kết hợp Lợi nhuận từ Kế toán và Thông tư về thuế TNDN.

Hoc ke toan tong hop thuc hanh Tai thu duc ***Phân loại chênh lệch giữa kế toán và thuế: Có 2 loại chênh lệch

– Chênh lệch vĩnh viễn: là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

+++Ví dụ: Chi phí không được chấp nhận cho mục đích tính thuế

– Tiền phạt vi phạm hành chính, vi phạm thuế, bảo hiểm…
– Lãi tiền vay của cá nhân quá tỷ lệ khống chế quy định;
– Chi phí khác (Biếu, tặng, Tiếp khách, Khuyến mại…) vượt quá tỷ lệ quy định
– Chi phí không có hóa đơn tài chính, chi phí lãi vay tương ứng với phần vốn góp chưa đủ …

***Chênh lệch tạm thời được khấu trừ: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh các khoản được khấu trừ chi phí trong tương lai thường được sử dụng các tài khoản 243, 347,8211


***Quy tắc chuyển lỗ:

– Chỉ chuyển lỗ của năm trước đó đúng bằng số lãi phát sinh trong kỳ

– Chỉ tiêu B12 và B13 bằng bao nhiêu sẽ làm căn cứ chuyển lỗ bấy nhiêu trên tờ khai quyết toán thuế TNDN năm

– Số lỗ được chuyển khi quyết toán thuế TNDN thêm phụ lục chuyển lỗ ở mẫu 03-2a = > số lỗ tự động chuyển sang chỉ tiêu [C3a] Lỗ từ hoạt động SXKD được chuyển trong kỳ số chênh lệch lỗ chưa chuyển hết sẽ là số lỗ còn được chuyển tiếp

– Số lỗ được chuyển lỗ 05 năm theo luật thuế TNDN bắt đầu từ năm tiếp theo của năm phát sinh lỗ là hết hạn chuyển lỗ theo luật thuế TNDN (đi từ TT130-TT123-NĐ218-TT78- TT96…

– Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp xác định số lỗ doanh nghiệp được chuyển khác với số lỗ do doanh nghiệp tự xác định thì số lỗ được chuyển xác định theo kết luận của cơ quan kiểm tra, thanh tra nhưng đảm bảo chuyển lỗ toàn bộ và liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ theo quy định.

– Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ, nếu số lỗ phát sinh chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm tiếp sau.

+++Khi làm tờ khai quyết toán năm: công thức là

++ Được chuyển lỗ:

1/ Chỉ tiêu A1 > 0 & B12-13 > 0 thì làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN

2/ Chỉ tiêu (A1 < 0 + B4) > 0 => B12-13 > 0 thì làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN

++Không được chuyển lỗ:

3/ Chỉ tiêu A1 < 0 => B12-13 < 0 thì KHÔNG làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN (B4=0 không có chi phí bị xuất toán)

4/ Chỉ tiêu (A1 < 0 + B4) < 0 => B12-13 < 0 thì KHÔNG làm phụ lục Chuyển lỗ 03-2A/TNDN



*** Về giảm lỗ theo quyết định kiểm tra quyết toán/ thanh tra thuế:

–Giảm lỗ theo quyết định kiểm tra quyết toán thuế không cần phải làm bút toán định khoản điều chỉnh sổ sách nào cả & kể cả tờ khai các loại

–Không cần chỉnh sửa bất kỳ một bút toán nào của năm các năm Giảm Lỗ theo kiết quả kiểm tra các chi phí phát sinh bị xuất toán trong biên bản đều thuộc chi phí kế toán không thêm hoặc xóa bất kỳ một bút toán nào vì đã có quyết định thanh tra thuế.

–Không cần làm lại bất kỳ sổ sách gì cả, chỉ cần xác định lại số lỗ theo quyết định thanh tra thuế để làm căn cứ giảm lỗ và chuyển lỗ cho các năn tiếp theo dựa theo chênh lệch lỗ giữa kết quả kiểm tra với sổ sách để làm căn cứ chuyển lỗ trên: phụ lục chuyển lỗ mẫu 03-2A/TNDN của tờ khai quyết toán TNDN năm

–Số chên lệch Lỗ theo luật thuế sau khi giảm Lỗ = Số Lỗ theo sổ sách – Số giảm Lỗ theo quyết định là Lỗ mà doanh nghiệp được chuyển lỗ chuyển lỗ theo luật thuế và số lỗ được chuyển lỗ 05 năm theo luật bắt đầu từ tài chính kế tiếp và hết hạn chuyển lỗ theo luật (đi từ TT130-TT123-NĐ218-TT78-TT96…

***Ví dụ:

-Năm 2016 công ty A số lỗ trên sổ sách = - 100.000.000

-Đầu tháng 1/2017 doanh nghiệp có quyết định thanh kiểm tra và có kết quả xử lý của đoàn kiểm tra như sau

-Giảm lỗ 90 triệu đồng do các nguyên nhân: chi phí lương không hồ sơ chứng từ…

Vậy theo kết quả trên ta thấy việc kết chuyển lỗ tuân theo luật thuế và kế toán

- Theo Sổ sách luật kế toán lỗ = -100 triệu: ngày 01/1/2017 kết chuyển lỗ vẫn là: Nợ TK 4211/ Có TK 4212= 100 triệu

- Theo luật thuế số lỗ chỉ chấp nhận = 100 triệu -90 triệu = -10 triệu là số làm căn cứ chuyển lỗ theo: phụ lục chuyển lỗ mẫu 03-2A/TNDN của tờ khai quyết toán TNDN năm nếu Doanh nghiệp SXKD có lãi

= > Giá trị giảm lỗ 90 triệu là giá trị chênh lệch vĩnh viễn doanh nghiệp không được chuyển số giảm lỗ của thanh tra thuế tại doanh nghiệp cho các năm quyết toán thuế tiếp theo nếu doanh nghiệp SXKD có lãi

dich vu ke toan thue tron goi gia re tai quan thu duc + Doanh nghiệp không cần phải làm bút toán định khoản giảm lỗ nào trên sổ sách

+ Doanh nghiệp chỉ theo dõi số lỗ còn lại để chuyển lỗ theo luật thuế: chỉ được chuyển lỗ 10 triệu.

***Hạch toán sau thanh tra thuế

+ Nếu năm trước đó cty đang LÃI đang dư Có TK 4211 thì :

Nợ TK 4211/ có TK 3334=tiền truy thuế TNDN

Nợ TK 4211/ có TK 3339=tiền phạt

Nợ TK 4211/ có TK 33311=tiền truy thuế GTGT

Nợ TK 4211/ có TK 3335=tiền truy thuế TNCN

+ Khi nộp:

Nợ TK 3334,3339,33311,3335/ Có TK 111,112.

*Chú ý: trường hợp này làm cho số liệu trên báo cáo KQKD không khớp với số dư TK 421 trên Sổ sách (CĐPS, Sổ cái)

+ Nếu năm trước đó đang LỖ Nợ TK 4211 thì

Nợ TK 811/ có TK 3334=tiền truy thuế TNDN

Nợ TK 811/ có TK 3339=tiền phạt

Nợ TK 811/ có TK 3339=tiền truy thuế GTGT

Nợ TK 811/ có TK 3335=tiền truy thuế TNCN

*Khi nộp:

– Nợ TK 3334,3339,33311,3335/ Có TK 111,112.

lop hoc ke toan tong hop thuc hanh tai hoang mai = > Kết Chuyển Nợ TK 911/ có TK 811 và tính vào lợi nhuận chưa phân phối năm nay 4212 cuối năm khi quyết toán thuế TNDN năm xuât toán khoản này vào B4 của tờ khai quyết toán thuế TNDN làm tăng doanh thu tính thuế.
[Read More...]


Nộp thuế thay chủ nhà có được hạch toán vào chi phí hợp lý không?



Nộp thuế thay chủ nhà có được hạch toán vào chi phí hợp lý không?
–Doanh nghiệp ký hợp đồng thuê nhà trong đó có điều khoản: chịu trách nhiệm nộp các loại thuế liên quan đến việc thuê nhà thay chủ nhà vậy các khoản thuế nộp thay này có được tính vào chi phí được trừ?
–Doanh nghiệp nộp thay thuế môn bài, GTGT, TNCN?
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
+Thuê nhà của cá nhân có doanh thu lớn hơn 100 triệu/năm không cần hóa đơn tài chính (Áp dụng 1/1/2015)mà bên đi thuê nộp tiền thuế thay cho bên cho thuê:
– Công ty tự trích nộp 5% thuế GTGT và 5% thuế TNCN để nộp vào NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCCác hồ sơ chứng từ để được thuế chấp nhận là chi phí được trừ như sau:
– Hợp đồng thuê nhà,
– Giấy chứng minh phô tô công chứng của cá nhân cho thuê nhà
– Chứng từ thanh toán tiền: tiền mặt hay chuyển khoản đều hợp lệ
– Chứng từ khấu trừ thuế là căn cứ để Công ty tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
– Biên bản bàn giao nhà
– Kê khai thuế cho thuê tài sản Mẫu 01/TTS (Ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính).
–Tờ khai lệ phí môn bài theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP quy định về lệ phí môn bài
*Căn cứ:
–Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thanh xuân
–Điểm 4 Thông tư 96/2015/ TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điểm 2.31 Khoản 2 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC quy định những khoản chi không được trừ
Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:
2.5. Chi tiền thuê tài sản của cá nhân không có đầy đủ hồ sơ, chứng từ dưới đây:
–Trường hợp doanh nghiệp thuê tài sản của cá nhân thì hồ sơ để xác định chi phí được trừ là hợp đồng thuê tài sản và chứng từ trả tiền thuê tài sản.
– Trường hợp doanh nghiệp thuê tài sản của cá nhân mà tại hợp đồng thuê tài sản có thoả thuận doanh nghiệp nộp thuế thay cho cá nhân thì hồ sơ để xác định chi phí được trừ là hợp đồng thuê tài sản,chứng từ trả tiền thuê tài sản và chứng từ nộp thuế thay cho cá nhân.
–Trường hợp doanh nghiệp thuê tài sản của cá nhân mà tại hợp đồng thuê tài sản có thỏa thuận tiền thuê tài sản chưa bao gồm thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuê môn bài) và doanh nghiệp nộp thuế thay cho cá nhân thì doanh nghiệp được tính vào chí phí được trừ tổng số tiền thuê tài sản bao gồm cả phần thuế nộp thay cho cá nhân.
*Theo đó:
– Các khoản thuế liên quan đến hoạt động cho thuê nhà (bao gồm thuế môn bài, giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân…) là thuộc trách nhiệm của chủ cho thuê nhà.
–Nếu trong hợp đồng thuê nhà mà không có thỏa thuận doanh nghiệp nộp thuế thay cho bên chủ nhà thì nghĩa vụ nộp thuế môn bài là của chủ nhà, nếu chủ nhà không nộp thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, còn doanh nghiệp chỉ cần chứng từ thanh toán và hợp đồng thuê nhà và hóa đơn là có thể đưa vào chi phí được trừ
–Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận doanh nghiệp nộp thuế thay cho bên chủ nhà mà doanh nghiệp không nộp thì doanh nghiệp sẽ không được đưa vào chi phí vì không có chứng từ nộp thuế thay cho chủ nhà kể cả trường hợp có hóa đơn hay không có hóa đơn.
–Trường hợp doanh nghiệp có thoả thuận riêng về việc nộp hộ các khoản thuế nêu trên cho chủ nhà mà tại hợp đồng thuê tài sản có thỏa thuận tiền thuê tài sản chưa bao gồm thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuê môn bài) và doanh nghiệp nộp thuế thay cho cá nhân thì doanh nghiệp được tính vào chí phí được trừ tổng số tiền thuê tài sản bao gồm cả phần thuế nộp thay cho cá nhân. dịch vụ kế toán thuế giá rẻ tại hưng yên
[Read More...]


Hàng triệu giao dịch tiền mặt hàng ngày có thể bị đánh phí



Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo thông tư quy định về việc thu phí nộp, rút tiền mặt qua tài khoản thanh toán của khách hàng tại tổ chức tín dụng.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải dương
Mục tiêu của chính sách này là nhằm hạn chế thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội liên quan đến sử dụng tiền mặt, nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng, do hiện nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao.

Thông tư này quy định về phí dịch vụ tiền mặt, bao gồm phí nộp, rút tiền mặt tại Ngân hàng Nhà nước và phí nộp, rút tiền mặt qua tài khoản thanh toán của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Đối tượng áp dụng là Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến dịch vụ tiền mặt.

Dự thảo hướng đến quy định: một là, tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức phí nộp tiền mặt khách hàng của mình nhưng không vượt quá 0,03% tổng giá trị tiền mặt nộp và phải niêm yết công khai; hai là, tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức phí rút tiền mặt đối với khách hàng của mình nhưng không vượt quá 0,05% tổng giá trị tiền mặt rút và phải niêm yết công khai.

Theo ban soạn thảo, quy định trên là có cơ sở thực tiễn cụ thể. Ngày 7/3/2007, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01 hướng dẫn thực hiện điều 4 và điều 7 Nghị định số 161, trong đó có nội dung quy định mức phí rút tiền mặt từ 0%-0,05%/giá trị tiền mặt.

“Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các ngân hàng còn áp dụng mức thu phí khác nhau, thấp hơn nhiều so với phí chuyển khoản hoặc không thu phí, vì vậy chưa có ảnh hưởng nhiều đến việc khách hàng lựa chọn sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt thay cho việc sử dụng tiền mặt để thanh toán”, ban soạn thảo đánh giá về quy định trên.

Rõ ràng, khi cơ chế cho phép các ngân hàng thương mại được quy định phí rút tiền mặt 0% thì đương nhiên họ không thu phí, vì tránh đánh vào một dòng tiền gửi, tránh đánh vào khách hàng tiềm năng của những dịch vụ khác.

Nay, với dự thảo quy định trên, nên hiểu như thế nào?

Theo dự thảo thông tư, các tổ chức tín dụng “được quyền” ấn định phí nộp và rút tiền mặt. Tuy nhiên, họ có thể không sử dụng quyền đó để bảo vệ và thu hút khách hàng của mình. Điểm này là chưa rõ trong nội dung dự thảo và bản giải trình của ban soạn thảo, nhưng hoàn toàn có thể khi dự thảo chỉ đưa ra mức trần của phí mà không quy định mức sàn.

Ở một hướng khác, nếu theo dự thảo quy định trên, các tổ chức tín dụng phải thực hiện thu phí nộp và rút tiền mặt, có thể sẽ xuất hiện một số khả năng cơ quan quản lý cần cân nhắc, xem xét thận trọng.

Thứ nhất là tình huống đốn rừng lấy gỗ để dựng hàng rào ngăn lũ, ngược với nguyên lý cơ bản là trồng rừng chống lũ.

“Rừng” ở đây được hiểu là nguồn lực từ lượng tiền gửi thanh toán của khách hàng. Nếu đánh phí cả nộp và rút, không chừng một bộ phận vốn lưu động trong dân cư sẽ rời bỏ ngân hàng về cất giữ ở nhà? Đây là một nguồn lực rất lớn.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại ninh bình
Theo số liệu công bố đến cuối năm 2013, chỉ riêng số dư của 46,8 triệu tài khoản thanh toán của chủ thẻ tại các ngân hàng đã lên tới trên 115.000 tỷ đồng. Nguồn vốn này là đáng kể để các ngân hàng khai thác, đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt là góp phần giúp họ kê các cân đối trong an toàn hoạt động. Như trên, nếu đánh phí cả hai chiều nộp và rút, nếu một bộ phận nguồn lực này rời bỏ, ảnh hưởng đầu tiên sẽ là các ngân hàng thương mại.

Một điểm nữa cũng cần xem xét. Ngoài việc các nhà băng không dùng quyền được áp phí như nêu trên, nếu buộc phải thu phí, không loại trừ khả năng họ vẫn có thể “lách” bằng cách bù chéo phí cho khách hàng qua nâng lãi suất cho số dư tiền gửi trên tài khoản đó. Và nếu tình huống này xẩy ra, chính sách thu phí trở nên vô nghĩa.

Một điểm khác được nêu trong bản giải trình dự thảo thông tư cũng có vẻ không “thông”. Ban soạn thảo cho rằng, việc thu phí nộp và rút tiền mặt của khách hàng là nhằm “nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng”. Ở đây, như hình ảnh trên, nó như được lý giải rằng: khi thiếu xi măng, sắt thép để gia cố hạ tầng, thì người ta phải đốn rừng lấy gỗ dựng hàng rào ngăn lũ vậy, dù cách làm đó có thể làm thay đổi dòng chảy - vốn vào ngân hàng.

Trong khi đó, có lẽ cần nhìn ngược lại, trước hết các ngân hàng phải đầu tư phát triển các dịch vụ tiện ích, thu phí ở những dịch vụ tiện ích này để quay trở lại đầu tư cho hạ tầng, qua đó cũng để hạn chế giao dịch tiền mặt trong nền kinh tế một cách tâm phục khẩu phục. Còn nếu hạn chế bằng cách đánh phí mà có thể khiến người dân bớt nộp tiền vào ngân hàng trong bối cảnh hạ tầng các dịch vụ tiện ích chưa mở rộng thì e là chưa hợp lý.

Còn nữa, bản thuyết minh dự thảo có dẫn một cơ sở pháp lý là: đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2011-2015 có nội dung “quy định mức phí đối với một số giao dịch thanh toán bằng tiền mặt”. Việc người dân nộp và rút tiền từ tài khoản của mình tại ngân hàng liệu có phải là “giao dịch thanh toán”, khi hiểu thanh toán là mua - trả và chuyển đổi chủ sở hữu tiền - hàng hóa hoặc dịch vụ.

Dĩ nhiên, như trên, nội dung của dự thảo là một cơ chế mở, cho phép các ngân hàng được quyền thu phí, còn thu hay không cũng là quyền của họ; mức phí dự kiến cũng chỉ có trần mà không có sàn. Và đây mới chỉ là dự thảo, Ngân hàng Nhà nước đang tập hợp các ý kiến đóng góp để hoàn thiện.

Dự kiến những quy định liên quan sẽ được ban hành và thực hiện trong năm nay.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hóc môn Nguồn VNEconomy
[Read More...]


Doanh nghiệp xuất khẩu được lợi nhờ điều chỉnh tỷ giá



Đã gần nửa tháng trôi qua kể từ khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chính thức điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và USD thêm 1%. Nhiều DN và cả chuyên gia kinh tế đều đánh giá, mức điều chỉnh này khá phù hợp. Mặc dù lợi ích chủ yếu rơi vào nhóm DN XK nhưng các DN NK cũng không quá lúng túng bởi đã có sự chủ động nhất định.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Mặc dù không nhiều, nhưng DN dệt may cũng được hưởng lợi khi điều chỉnh tỷ giá. Ảnh: H.NỤ

Lợi ít

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và XK Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: Tỷ giá đã neo ở mức cũ quá lâu, cần thiết điều chỉnh cho phù hợp với những biến động của nền kinh tế cả trong và ngoài nước. Do đó, quyết định điều chỉnh tỷ giá vừa qua của NHNN khá hợp lý. Các DN trong ngành thủy sản chủ yếu XK, sử dụng nguyên liệu trong nước nên việc điều chỉnh này giúp DN có thêm lợi nhuận. Khi DN tăng thêm nguồn thu, mức tiền bỏ ra để thu mua nguyên liệu cũng tăng lên. Do đó, tỷ giá tăng, người nông dân cũng được hưởng lợi. Tuy nhiên, các DN cũng mong chính sách tỷ giá sẽ tiếp tục ổn định chứ không nên bấp bênh, nhiều thay đổi.

Là DN chủ yếu XK mặt hàng dệt may nên Công ty CP Thúy Đạt cũng phần nào được hưởng lợi từ quyết định điều chỉnh tỷ giá vừa qua. Theo ông Nguyễn Văn Châu, Giám đốc Công ty, điều chỉnh tỷ giá đương nhiên giúp DN tăng thêm lợi nhuận. Tuy nhiên, mức lời lãi thêm này cũng không nhiều, chỉ khoảng 30-40 triệu đồng/tháng.

Ông Châu lý giải, DN chủ yếu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa ở thị trường nước ngoài nhưng cũng phải NK khá nhiều bông nguyên liệu, thanh toán bằng USD. Bên cạnh đó, DN cũng đã đầu tư, mua máy móc thiết bị hiện đại bằng ngoại tệ, vay cũng bằng ngoại tệ nên tính tổng thể, sau khi cân đối mọi khía cạnh, lời lãi tăng thêm chỉ ở mức vài chục triệu đồng.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bình thạnh Ông Châu cho rằng, mặc dù lợi ích trực tiếp còn khiêm tốn nhưng điều quan trọng là động thái điều chỉnh tỷ giá của NHNN giúp DN yên tâm làm ăn, nâng cao ý thức thúc đẩy XK.

Tính toán để thích nghi

Theo ông Đặng Việt Bách, Chủ tịch HĐQT-Tổng giám đốc Tập đoàn Sóng Thần (đơn vị chuyên NK, phân phối bia, đồ gia dụng, thiết bị bếp gia đình), điều chỉnh tỷ giá chủ yếu đem lại lợi ích cho các DN XK là chính, còn đơn vị chuyên NK như Sóng Thần lại chịu thua thiệt. Mặc dù mức thua thiệt không quá lớn, nhưng cũng khiến DN phải tính toán để cân đối mọi khía cạnh nhằm ổn định kinh doanh.

Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) nhận định: Điều chỉnh tỷ giá có phần tác động trái chiều giữa nhóm DN XK và NK. Đương nhiên các DN XK sẽ được lợi hơn từ thông tin này. Ngược lại, những đơn vị chủ yếu NK như các DN trong ngành thép sẽ bị ảnh hưởng. Ông Sưa dẫn chứng, năm 2013, ngành thép chỉ XK 2,3 tỷ USD nhưng lại NK tới 8 tỷ USD. Căn cứ mức độ chênh lệch này sẽ dễ dàng nhận thấy, tỷ giá tăng lên, DN trong ngành vốn đã khó khăn nay càng thêm khó. “Tuy nhiên, điều chỉnh tỷ giá nhằm thúc đẩy XK nói chung, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Thông tin điều chỉnh tỷ giá cũng không phải bất ngờ nên điều quan trọng là các DN trong ngành phải có những dự liệu, tính toán cho phù hợp để thích nghi”, ông Sưa nói.

Xung quanh vấn đề này, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng: Điều chỉnh tỷ giá 1% ở thời điểm hiện tại là cần thiết. Tuy nhiên, quyết định đó khó làm vừa lòng mọi đối tượng DN. Các DN được lợi chủ yếu là DN nông sản, thủy sản... XK nhiều mà thường không phải NK nguyên liệu. “Có nhiều ý kiến cho rằng, điều chỉnh tỷ giá 1% sẽ giúp khuyến khích XK nhưng tôi rất nghi ngờ điều này. Bởi hàng loạt ngành hàng khác như điện tử, thép, dệt may, da giày… XK nhiều nhưng NK cũng rất lớn. Từ nay tới cuối năm, tỷ giá vẫn có thể tiếp tục được điều chỉnh nhưng cộng đồng DN cũng không nên kỳ vọng nhiều, bởi có điều chỉnh hay không và mức điều chỉnh cụ thể ra sao còn phải phụ thuộc vào diễn biến thực tế của nền kinh tế, thị trường cả trong và ngoài nước”, chuyên gia Lê Đăng Doanh khẳng định.
dịch vụ kế toán thuế giá rẻ tại hải dương Nguồn Báo Hải Quan
[Read More...]


Tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp chế xuất



Ngày 19-6, gần 100 doanh nghiệp trong khu chế xuất Tân Thuận (TP.HCM) đã tham dự Hội nghị đối thoại với Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận (Cục Hải quan TP.HCM). Nhiều vướng mắc liên quan đến thủ tục XNK hàng hóa về loại hình chế xuất đã được cơ quan Hải quan giải đáp.

Ông Nguyễn Bá Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận cho biết, khu chế xuất Tân Thuận có 122 doanh nghiệp, thuộc 12 quốc gia và vùng lãnh thổ đang hoạt động. Trong đó, tập trung nhiều nhất là doanh nghiệp Nhật Bản với 60 doanh nghiệp; 50 doanh nghiệp Đài Loan… với ngành nghề sản xuất kinh doanh rất đa dạng, như: dệt, sợi, may mặc, cơ khí, điện- điện tử…

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng
Thời gian qua, để tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của doanh nghiệp, Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận đã chú trọng việc rà soát đề xuất cải cách thủ tục hành chính về hải quan theo hướng đơn giản hóa, niêm yết công khai các văn bản pháp quy, tuyên truyền, hướng dẫn những chính sách mới cho doanh nghiệp…

Lãnh đạo Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận và đại diện một số phòng tham mưu Cục Hải quan TP.HCM đã dành phần lớn thời gian đối thoại, trả lời các câu hỏi vướng mắc của doanh nghiệp.

Đại diện Công ty Innax Vina phản ánh, doanh nghiệp chuyên nhập khẩu nguyên liệu vàng từ nước ngoài để sản xuất nữ trang và xuất khẩu 100% sản phẩm. Thời gian gần đây, các tờ khai xuất khẩu (mỗi ngày trung bình 10 tờ khai) sản phẩm nữ trang của doanh nghiệp đều bị phân vào luồng Đỏ do bị điều chỉnh bởi Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 16/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước khiến công ty gặp khó khăn và trở ngại trong việc xuất khẩu hàng.
dich vu lam bao cao tai chinh gia re tai quan cau giay
Doanh nghiệp cho rằng các quy định trên chủ yếu điều chỉnh, quản lý hoạt động kinh doanh vàng ở thị trường Việt Nam, trong khi đó sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu 100%.

Trả lời vướng mắc trên của doanh nghiệp, lãnh đạo Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận cho rằng, đơn vị đã triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử, việc phân luồng hàng hóa do chương trình phần mềm máy tính tự phân dựa trên hệ thống quản lý rủi ro của ngành Hải quan.

Tuy nhiên, đối với trường hợp vướng mắc cụ thể nêu trên của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan ghi nhận và sẽ kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét để giải quyết sớm, tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp.

Liên quan đến các vướng mắc về định mức đối với loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, một số doanh nghiệp chế xuất cho biết trong quá trình sản xuất do cải tiến kỹ thuật nên định mức giảm so với định mức đã đăng kí với cơ quan Hải quan. Những mã sản phẩm này công ty đã xuất khẩu rồi, việc điều chỉnh định mức và mã sản phẩm như thế nào.

Trả lời vướng mắc trên cho doanh nghiệp, Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận cho rằng, căn cứ vào khoản 3 Điều 33, mục 1, chương II Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 6-12-2010 của Bộ Tài chính: trong quá trình sản xuất nếu có thay đổi định mức thực tế thì doanh nghiệp được điều chỉnh định mức mã hàng đã thông báo với cơ quan Hải quan phù hợp với định mức thực tế nhưng phải có văn bản giải trình lý do cụ thể cho từng trường hợp điều chỉnh.

Về thời điểm điều chỉnh định mức, phải thực hiện trước khi làm thủ tục xuất khẩu lô sản phẩm có định mức điều chỉnh. Trường hợp do thay đổi mẫu mã chủng loại hàng hóa xuất khẩu trong quá trình sản xuất làm phát sinh thêm loại nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất sản phẩm xuất khẩu khác với định mức tiêu hao đã thông báo thì doanh nghiệp phải khai báo và điều chỉnh lại định mức với cơ quan Hải quan chậm nhất 15 ngày trước khi làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm…

lop hoc ke toan tong hop thuc hanh tai binh tan
Tại hội nghị đối thoại này, lãnh đạo Chi cục Hải quan Khu chế xuất Tân Thuận đã giới thiệu cho các doanh nghiệp các văn bản pháp quy mới, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế có hiệu lực vào 1-7-2013…/.
Theo baohaiquan
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page